Tin tức

60.000 ca tử vong mỗi năm do ô nhiễm không khí tại Việt Nam.

1. Tác động của ô nhiễm không khí đối với sức khỏe con người

Ô nhiễm không khí không chỉ làm gia tăng khí nhà kính gây biến đổi khí hậu, suy thoái hệ sinh thái mà còn là tác nhân chính gây tác động xấu đến sức khỏe con người. Cuối năm 2015, lần đầu tiên Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra cảnh báo ô nhiễm không khí là tác nhân chính gây ung thư phổi dựa trên các nghiên cứu khoa học trong nhiều năm và ở nhiều quốc gia. Theo thống kê, hàng năm có hàng triệu người thiệt mạng vì ung thư do ô nhiễm không khí. Ấn Độ là quốc gia có tỷ lệ tử vong do ô nhiễm không khí cao nhất. Ngoài ra, Trung Quốc cũng là quốc gia nổi tiếng về ô nhiễm không khí, cụ thể là ở Bắc Kinh và một số thành phố lớn. Hàng năm, ở quốc gia đông dân nhất thế giới, khoảng 1,6 triệu người chết sớm do ô nhiễm không khí. Ở các nước EU, tuổi thọ trung bình giảm 9 tháng là do nguyên nhân này.

Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ, các biện pháp thay đổi công nghệ động cơ diesel có thể giảm 12.000 ca tử vong ở trẻ em, 15.000 ca đột quỵ tim, 6.000 ca cấp cứu do hen suyễn, 8.900 ca nhập viện do các vấn đề liên quan đến hô hấp tại Mỹ. WHO cũng cảnh báo rằng phần lớn các ca ung thư phổi do ô nhiễm không khí được phát hiện ở các nước thu nhập thấp hoặc trung bình, chủ yếu ở Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Theo các chuyên gia y tế, các chất ô nhiễm đi qua màng lọc của phổi, sau đó đến máu và ngấm vào mạch máu gây xơ vữa động mạch và tác động tức thì như viêm phổi, viêm mũi, hen suyễn thậm chí về lâu dài gây ung thư phổi. Đặc biệt, những người làm việc trong môi trường ô nhiễm như mỏ than, nhà máy xi măng có thể bị xơ phổi.

Tại Việt Nam, theo thống kê chưa đầy đủ, những năm gần đây, số lượng bệnh nhân liên quan đến ô nhiễm không khí ngày càng gia tăng. Số trẻ nhập viện điều trị hen suyễn, vi khuẩn đường hô hấp, ho tại một số bệnh viện trên địa bàn TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tăng gấp nhiều lần. Theo dự báo của các chuyên gia y tế, số ca ung thư trong đó có ung thư phổi ở Việt Nam sẽ tăng lên đáng kể trong vòng 5 năm tới.

2. Hiện trạng ô nhiễm không khí

Theo số liệu quan trắc những năm gần đây, tại một số đô thị lớn của Việt Nam, hệ thống quan trắc tự động liên tục cho thấy ô nhiễm PM2.5 là vấn đề ô nhiễm không khí nghiêm trọng nhất. Đây là vấn đề rất khó không chỉ đối với Việt Nam mà còn của nhiều nước Châu Á. Việc đánh giá ô nhiễm có thể được thực hiện thông qua việc so sánh số liệu quan trắc trung bình hàng ngày và số liệu quan trắc trung bình hàng năm đến mức cho phép.

Để so sánh các năm, các ngày có giá trị trung bình cao hơn quy định được so sánh. Có thể thấy qua các năm, giá trị trung bình ngày (24 giờ) của nhiều ngày trong năm tại một số địa điểm ở các thành phố lớn đều cao hơn mức cho phép từ 1,5 – 2 lần (mức cho phép 50 μ / m3); số ngày có giá trị bình quân ngày cao hơn mức cho phép ngày càng tăng qua các năm; Giá trị giờ trung bình trong ngày thay đổi, chủ yếu cao nhất vào giờ cao điểm khi mật độ ô tô và xe máy trên đường phố cao. Trong một số ngày, giá trị này thậm chí còn cao hơn gấp 3-4 lần mức cho phép 50μg / m3.

Có thể thấy, vấn đề ô nhiễm không khí (PM2.5) tại một số đô thị của Việt Nam đang rất nan giải khi giá trị trung bình và giá trị hàng năm đều cao hơn mức cho phép. Đặc biệt, những ngày gần đây, rất nhiều người quan tâm đến việc Hà Nội có ô nhiễm như Bắc Kinh hay không.

3. Nguyên nhân gây ô nhiễm không khí

Để hiểu thêm về thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam, có thể kể đến một số nguyên nhân sau:

Số lượng ô tô và xe máy ngày càng nhiều, trong khi người dân địa phương không có thói quen đi bộ. Tại Hà Nội, hiện có khoảng 5 triệu xe máy và 500.000 ô tô. Mỗi ngày có thêm 1.000 ô tô, xe máy được đăng ký mới. Hồ Chí Minh có khoảng 6,8 triệu xe máy, 700.000 ô tô và mỗi ngày có thêm 1.200 ô tô, xe máy. Ngoài ra, có rất nhiều ô tô, xe máy cũ không được bảo dưỡng đúng cách. Nhiên liệu sạch như xăng E5 bước đầu được khuyến khích sử dụng.

Giao thông công cộng bị hạn chế; xe buýt chỉ đáp ứng được 5-10% nhu cầu đi lại của người dân địa phương. Ngoài ra, xe buýt là tác nhân gây ô nhiễm, chưa sử dụng nhiên liệu sạch hoặc nhiên liệu thay thế thân thiện với môi trường như CNG hoặc LPG vốn được sử dụng cho taxi và xe buýt ở nhiều nước khác. Hệ thống tàu điện ngầm và tàu điện trên cao mới được khởi công xây dựng ở một số tuyến đường ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc xây dựng các chung cư, nhà cao tầng và các công trình ở các thành phố cũng gây ra ô nhiễm bụi nếu các phương tiện ra vào các công trường này không được quản lý hợp lý.

Việc đốt rơm, rạ sau thu hoạch, đốt rác thải ở các vùng ngoại thành và nông thôn đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng không khí. Sự cố khói mù sau thu hoạch diễn ra thường xuyên hơn.

Trong cơ cấu sản xuất điện, tỷ trọng các nhà máy nhiệt điện than ở Việt Nam tương đối cao, hơn 50% với khoảng 20 nhà máy. Ngoài ra, 50 nhà máy xi măng và 40 nhà máy chế biến thép là những nguồn gây ô nhiễm không khí lớn trong cả nước.

4. Giải pháp cần thực hiện

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang thực hiện một số biện pháp để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí:

– Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến quản lý chất lượng không khí như quy định về chất lượng không khí cho các lĩnh vực sản xuất, đốt chất thải; đồng thời yêu cầu các nhà máy phát sinh nguồn thải lớn phải trang bị thiết bị quan trắc tự động kết nối với cơ quan quản lý. Đặc biệt, tăng mức xử phạt đối với các đối tượng vi phạm và yêu cầu chương trình bảo vệ môi trường đối với phương tiện giao thông (lộ trình áp dụng EURO 4 đối với ô tô mới, kiểm tra, giám sát, bảo dưỡng ô tô cũ, sử dụng xăng E5…)

– Xây dựng một số công trình nhằm tăng cường hệ thống giao thông công cộng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là hệ thống giao thông ngầm, hệ thống giao thông trên cao, mạng lưới xe buýt tăng cường; phân luồng lại hệ thống giao thông, xây dựng các cầu vượt tại các nút giao thông để chống ùn tắc giao thông… Bước đầu quản lý các phương tiện chở vật liệu xây dựng, các công trình xây dựng trong và ngoài đô thị.

– Lựa chọn một số công nghệ sạch cho nhà máy nhiệt điện, yếu tố gia công thép, yếu tố xi măng để giảm bụi. Đồng thời thực hiện nghiêm việc đóng cửa các lò gạch thủ công tại các địa phương.

– Phát triển mạng lưới quan trắc không khí tự động tại các thành phố lớn và phổ biến chất lượng không khí thông qua các chỉ số AQI trong công chúng.

– Tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, vận động cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ chất lượng không khí nói riêng thông qua các chương trình tiết kiệm năng lượng, sử dụng phương tiện công cộng, không đốt rác thải, không đốt rơm, rạ…

Tuy nhiên, có thể thấy, mặc dù đã có nhiều biện pháp cải thiện chất lượng không khí nhưng kết quả không mấy khả quan. Ô nhiễm không khí có thể gia tăng theo sự phát triển kinh tế trừ khi không có các biện pháp cụ thể. Do đó, cần ưu tiên thực hiện các giải pháp sau:

– Các thành phố nhanh chóng xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng không khí (AQM) nhằm xác định cụ thể các nguồn ô nhiễm và mức độ ô nhiễm để đề xuất các giải pháp phù hợp và cụ thể.

– Tăng cường chương trình kiểm soát và giảm thiểu không khí thải ra từ các phương tiện giao thông. Siết chặt tiêu chuẩn khí thải nhập khẩu xe cũ đang lưu hành; tăng cường kiểm soát việc phát tán không khí trên đường phố; thành lập các trạm kiểm định ô tô trên toàn quốc; phát triển các trung tâm thử nghiệm hàng không phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; mở rộng các cơ quan thực hiện kiểm tra tiêu chuẩn hàng không…

– Triển khai Đề án kiểm soát khí thải xe máy tại các tỉnh, thành phố lớn. Mục tiêu của Đề án trong giai đoạn 2013-2015 là 80% – 90% xe máy hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng không khí.

– Phát triển nhanh và đưa vào khai thác hệ thống giao thông công cộng như xe buýt, tàu điện trên cao, tàu điện ngầm. Sử dụng nhiên liệu sạch và nhiên liệu thay thế cho các phương tiện giao thông công cộng

– Sử dụng công nghệ sạch cho các ngành công nghiệp để giảm phát thải ống khói, tăng cường quản lý đốt chất thải sinh hoạt và chất thải nguy hại. Tiến hành kiểm kê khí thải công nghiệp, lắp đặt hệ thống tự động cho các nguồn thải lớn.

– Quy hoạch nhà cao tầng, đường phố; nâng cao năng suất sử dụng năng lượng.

– Tăng cường sử dụng nhiên liệu ít phát thải, năng lượng tái tạo (năng lượng gió, năng lượng mặt trời).

– Lắp đặt các trạm quan trắc tự động liên tục tại các thành phố và đô thị ở Việt Nam để kiểm soát chặt chẽ chất lượng không khí và cung cấp thông tin cho cộng đồng.

– Tiến hành nghiên cứu tác động đến sức khỏe của một số chất ô nhiễm mới như thủy ngân.

(Nguồn: http://tapchimoitruong.vn/pages/article.aspx?item=Is-air-pollution-in-Vi%E1%BB%87t-Nam-really-concerned?-41369)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *